ETHET E ARIT
MỎ VÀNG RUSH


Ëndrra e mijëra njerëzve të cilët i ka kapluar Sirena jo zemërmirë e Veriut të Madh në mbretërinë e saj, e akullt dhe e pa kërkuar.
Mỏ vàng Rush, Alaska hy vọng và ước mơ của bao người, nét quyến rũ tàn nhẫn của vùng Bắc Viễn, muôn vàn vẫy gọi từ bộ ngực băng giá.

Duke e kaluar rrethin Chilkoot, në drejtim të fushave me ar në mes të një shkretëtire të paimagjinueshme, një numër i madh i njerëzve të rraskapitur aty e kanë lënë jetën.
Muôn vàn vẫy gọi đến các khu vực chưa được khám phá. Đèo Chilkoot là trở ngại lớn nhất để đến các mỏ vàng. Để vượt qua đèo phải vượt qua muôn vàn khó khăn và gian khổ.

...të tjerët janë zbrapsur më të fortit kanë vazhduar.
Nhiều người đã mất cuộc sống. Một số gục ngã ngay vệ đường, một số mất hết can đảm và quay trở lại.

Në zemër të asaj ftoftësie të thatë... një kërkues i ma frikshëm.
Xa trong vùng băng tuyết, đang chìm vào im lặng hư không, có một người tìm kiếm đơn độc.

Në zemër të asaj thatësire, edhe një kërkues.
Và ở một nơi nào đó thêm một người tìm kiếm đơn độc khác.

Optimist, i yni Christoph Colombo e vazhdon udhëtimin e tij. Ndalet, matë, bjen në tokë dhe ngritet.
Với sự lạc quan vui vẻ một hậu duệ Columbus đang bước đi, rồi dừng lại, bước, trượt và trượt.

"Të shohim" - mendon ai, ta kuptoj se ku jam, duhet të shkoj përpara.
"Nào hãy cho tôi thấy," anh bạn trẻ.

...është përmbushur ëndrra e tij dhe zëri ka fluturuar kah qielli: Në vendin e akullt dhe të ftohtë... "Urra!
Ở nơi hoang dã giá lạnh một ước mơ đã trở thành sự thật, và một tiếng hét đơn độc vang vào bầu trời đầy trang trọng.

E kam gjetur një bjeshkë me ari!"
"Eureka!

Në atë çast natyra ja fillon të qesh, duke fryrë era dhe duke lëshuar vetëtimë.
Bỗng nhiên, thời tiết trở nên kinh khủng.

Dhe një i vetmuar: Black Larson. Një njeri shumë i keq, plaçkitës.
Trong bão tuyết có một căn lều đơn độc, và thêm một người đàn ông đơn độc khác nữa, Black Larson, một con người xấu xa, một tên đầu trộm đuôi cướp.

...Njeriu i Vogël hy brenda që të largohet nga ajo dhe i pushon eshtrat e tij...
Ra khỏi cơn bão tuyết xuất hiện Litter Fellow của chúng ta đang tìm nơi trú ẩn và có lẽ một khách sạn nhỏ. Anh ta ngồi, với bộ xương mệt mỏi nghe tiếng gió gầm rít thông qua các lỗ thủng trên vách.

"Çfarë po bën?"
"Mày lại đây", Larson nói.

"A nuk po e sheh se po ha!"
Mày đang làm gì vậy?

"Largohu nga këtu!"
"Tôi đang ăn, rất rõ ràng mà."

Dil jashtë!
nhanh.

Big Jim ka luftuar kundër erës së madhe.
Gió cũng làm cho Big Jim gặp khó khăn.

Big Jim i dashur ka hequr shumë.
Big Jim vốn thuộc dòng dõi quí tộc.

E ka dashur heqjen keq, nga të gjitha ka hequr keq.
Anh ta đang phá sản.

"ose do të të mbush me plumba!"
"Cút hết", Larson nói.

Jashtë!
"Nào, cả 2 đứa mày cút ra!"

Jimi nuk ka mundur ta përballoj atë bërtitje.
Đi ra!

"Do të qëndroj këtu, kupton?" "Po, këtu!"
"Tao sẽ ở ngay tại đây, hiểu không?"

"Po zotëri!
"Phải, ngay ở đây."

Do të rrimë këtu!"
"Đúng, thưa ông, anh ta, sẽ ở lại đây."

Do të qëndrojmë këtu!"
"Hiểu chưa?

Ashtu kan ndenjur me ditë të tara dhe netë.
Và ở họ đã trong lều, suốt cả ngày và đêm.

Kanë shëtitur të qetë, të uritur.
Căn lều ọp ẹp rên rỉ vì bão.

"Ushqim!" ka bërtitur Big Jim. "Ushqim!"
"Tôi phải có thức ăn!"

"Me asgjë!"
"Anh đang ăn gì?" Larson hỏi.

"Hape gojën!"
À... à... tôi có ăn gì đâu.

"Çfarë?
Nến đúng không?"

E pështirë!"
Gì vậy...!

"Ti besoj gënjeshtrave tua, do ta kisha hapur stomakun!"
"Nếu tao biết mày đang lừa tao tao sẽ cắt chym của mày đấy!"

"Njëri nga ne duhet të dal të kërkon në fortunë që të hamë diçka."
"Một trong chúng ta phải can đảm ra ngoài cơn bão, nếu chúng ta muốn có gùi đó để ăn."

"Do të shkon ai që e zgjedh letrën më të vogël!"
"Cả 2 đứa chúng mày lại đây." "Chúng ta sẽ bốc bài đứa nào thấp nhất sẽ phải đi."

"Paq fat, dhe mos e harro porshutën!" Thotë i Vogli.
"Goodbye, chúc may mắn."

Në atë vend të akullt dhe të thatë, Larsonin e ka pritur ligji.
Ở một nơi khác, pháp luật đang tìm kiếm Larson.

Të vdes, në ditën e falenderimeve. Nuk kanë humbur të gjitha shpresat.
Tuyệt vọng cơn đói và hôm này là ngày lễ Tạ Ơn.

"Edhe dy minuta." "Hajde, hajde," thotë Big Jim.
"Chưa được nhừ lắm, cần thêm 2 phút nữa."

Duke kaluar tërë rrethin ju ka dashur të kupton se nuk ka gjetur asgjë... edhe një minjë polar nuk e ka gjetur.
Sau khi xục xạo hết mọi nơi, Fellow Little trở về mà không tìm được cái gì, thậm chí đến cả 1 con chuột đồng.

Jimi është bërë histerik.
Trong cơn đói,

Çfarë katastrofe!
Big Jim đã nên hoang tưởng,

Ka bërtitur "Ushqim!"
Anh ta đang có 1 vết đau ở cổ.

"Do ta vendos edhe këpucën tjetër në tenxhere!" "Të gjitha, vetëm atë jo!"
"Tôi có thể nấu nốt chiếc giầy này."

Më nuk ka mundur ta pranon atë.
Tội nghiệp Jim, anh ta không thể quên cơn đói.

"Çfarë po bën?" "Paj ti je pulë!"
"Gì thế bạn?" Fellow Little hỏi.

"Ndeze zjarrin!"
"Nào, nhóm lửa lên đi," Big Jim nói.

"Çfarë të ka rënë ndërmend?" "Eja, zog i bukur!"
"Anh sao thế?" Fellow Little lo lắng.